Từ Lục triều (Đông Ngô, Đông Tấn, Nam Tống, Tề, Lương, Trần) và đến đời Đường, vùng thượng trung du sông Truờng giang, được xem là một trong những khu vực trọng điểm mà Phật giáo được truyền vào.
Tín ngưỡng Phật giáo trong dân gian
trên lưu vực sông Trường giang – từ Lục triều đến Đường đại
Tác giả: Lưu lễ Đường
Lam Yên dịch
Sơ lược tác giả: Lưu Lễ Đường (sinh năm 1963) người huyện Đại Ngộ, thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc. Phó giáo sư khoa văn, trường đại học sư phạm Vũ Hán, tiến sĩ nghành sử học, chủ yếu nghiên cứu lịch sử cổ đại Trung Quốc.
Tiến trình Phật giáo thâm nhập vào đời sống nhân gian trên lưu vực sông Trường giang – đời Đường.
Từ Lục triều (Đông Ngô, Đông Tấn, Nam Tống, Tề, Lương, Trần) và đến đời Đường, vùng thượng trung du sông Truờng giang, được xem là một trong những khu vực trọng điểm mà Phật giáo được truyền vào. Nơi đây địa hình hàu hết thâm sơn, cũng là nơi lý tưởng cho việc câu hội nghiên cứu giáo lý Phật giáo và hoằng dương phật pháp của các vị cao tăng thời Nam Bắc triều.
Từ thành thị cho đến thâm sơn biên địa, tín ngưỡng Phật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuận trong đời sống sinh hoạt của người dân trên lưu vực sông Trường. Nguyên nhân Phật giáo được hưng thịnh nơi đây có hai nguyên nhân:
Thứ nhất, hầu hết tầng lớp vua quan triều đình đều tín ngưỡng Phật giáo.
Thư hai, nhân dân tin tưởng rằng: cầu Phật, Thần sẽ tăng phước tiêu họa.
Ngoài ra, cùng với tín ngưỡng văn hóa bản địa như tin vào quỷ thần cũng là lý do đưa đến sự tín ngưỡng Phật giáo. Tùy theo sự truyền bá Phật giáo của các vị tăng sĩ kết hợp văn hóa bản địa mà niềm tin Phật giáo ngày càng sâu rộng trong lòng quần chúng.
Tín ngưỡng Phật giáo cũng giống như tín ngưỡng khác trong đời sống nhân gian là phụng hành việc tế tự, cầu phúc, tránh họa. Về hình thức, tín ngưỡng Phật giáo và tín ngưỡng dân gian có sự khác biệt. Vì tín ngưỡng bản địa có yếu tố thần linh. Và chức nghiệp Thần hoạt động trong các trường hợp nhất định, như việc tế tự định kỳ của triều đình cùng với việc tế tự thông thường của dân gian, thể hiện có sự sai khác với nghi thức Phật giáo.
Ở phạm vi bài nghiên cứu này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu mối liên quan giữa tín ngưỡng Phật giáo và tín ngưỡng dân gian hay còn gọi là tín ngưỡng bản địa của người dân trên lưu vực sông Trường giang thời Lục triều và cụ thể là đời Đường. Những địa danh mà người nghiên cứu đề cập vào thời lục triều như Kiếm Nam Đạo, Sơn Nam Đạo, Tây Đạo, Chuẩn Nam Đạo và một bộ phận của Giang Nam Tây Đạo, tương ứng với những địa danh ngày nay là tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam Thiểm Tây và một bộ phận của tỉnh Giang Tây -Trung quốc ngày nay.
Như chúng ta đã biết, sau khi Phật giáo truyền vào Trung quốc, trải qua quá trình “Trung quốc hóa” và Phật giáo tại Trung quốc bị đồng hóa với tín ngưỡng bản địa trên hai phương diện:
Thứ nhất, Phật giáo không ngừng bị đồng hóa bởi tư tưởng truyền thống văn hóa bản địa, chủ yếu là tư tưởng Nho gia và Đạo giáo, nhưng dần đến đời Đường phật giáo đã chính thức hình thành một tông phái có đặt trưng riêng.
Thứ hai, tư tưởng “nhân quản báo ứng” và cổ xúy tinh thần “pháp lực” vô biên của Phật giáo đã không ngừng thâm nhập ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật của lão bách tánh, những sự kiện hoạt động Phật giáo đã thành ra những sự kiện hoạt động quan trọng của quần chúng xã hội.
Phật giáo đã được các gia tầng trong xã hội từ thành phần sĩ phu tri thức cho đến người bình dân tiếp nhận và lý giải theo sự hiểu biết của riêng mình. Hoạt động tôn giáo của nhân dân trở nên gần gũi với mọi phương diện sinh hoạt của cuộc sống, ý thức tôn giáo đã phản ảnh được nguyện vọng và sự mong ước thực hiện cuộc sống tinh thần có ý nghĩa. Đó là nguyên nhân Phật giáo thời Lục triều và chủ yếu là thời Đường trở nên hưng thịnh.
Như trên đã nói, từ Lục triều đến đời Đường, tín ngưỡng Phật giáo không chỉ được lưu bố khắp thành thị mà cho đến thâm sơn cùng cốc biên địa. Nơi đây còn là nơi lý tưởng để các vị Tăng nhân câu hội nghiên cứu giáo lý tinh yếu của Phật đà và hoằng dương Phật pháp trong thời Nam Bắc triều.
Tài liệu khảo cổ ghi chép, Phật giáo đã được hình thành ở Giang Nam (phía Nam sông Trường giang) mãi đến thời kỳ Tam quốc, trong thời kỳ này, trên các bia mộ chôn táng tại sông Trường giang xuất hiện không ít những di vật phản ánh tín ngưỡng Phật giáo, như ngôi mộ đã được khai quật tại chùa Liên Khê – Vũ Xương, niên hiệu Vĩnh An năm thứ 5 (262 TL), trong đó xuất hiện một pho tượng đất nung trên trán pho tượng có khắc dòng chữ “bạch hào tướng”, cùng một số tượng Phật điêu khắc và trang sức bằng vàng ròng và đồng xanh, căn cứ theo đây thì việc tạo tượng Phật đã có từ rất sớm trên lưu vực sông Trường giang từ thời Lục triều.
Cũng tại thời kỳ này, vùng trung du sông Trường giang, việc khai quật đã phát hiện một ngôi tháp Phật rất sớm, thuộc đời nhà Hán, tại tỉnh Sơn Đông. Tháp đề “Nghi Tân hoàng tháp mộ”, khi khai quật, trong đó có pho tượng Phật ngồi trên tòa sư tử. Ngoài ra, năm 1942, huyện Bành Sơn–Sơn Đông, phát hiện ngôi mộ bên trong có nhiều đồ trang sức quý giá làm bằng đá tử sa có khắc tượng Phật. Năm 1989 tại thôn Hà Gia Sơn, Miên Dương, các nhà khảo cổ đã khai quật ngôi mộ, bên trong cũng có vô số loại trang sức như cây tiền vàng (loại cây này theo quan điểm của người Hoa Hạ là đem lại sự giàu có và thịnh vượng cho gia chủ) và một tượng Phật làm bằng đồng. Cũng tại thôn Lạc Sơn, Tây Hồ - Hàng Châu đã phát hiện vô số tượng gốm mà niên đại được xác định từ các thời Lục triều.
Sau khi các tài liệu về khảo cổ được công bố, chúng được xem là một thú vị đối với giới học thuật, vì có thể giúp cho họ nhìn nhận lại lịch sử Phật giáo và con đường du nhập Phật giáo vào Trung Hoa trên lưu vực sông Trường giang từ những tư liệu mới của nghành khảo cổ.
Từ xưa đến nay, rất nhiều học giả vốn cho rằng, Phật giáo truyền nhập vào trung Quốc từ thời Đông Hán, kinh qua con đường từ Tây Bắc vào Trung Nguyên (nay là tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), rồi từ Tây bắc hướng về phía Nam và tây Nam kinh mà truyền vào kinh đô Lạc Dương. Lạc Dương là vùng đất quan trọng của Trung Nguyên thời Đông Hán, nhưng mãi đến nay vẫn chưa có một phát hiện nào về vết tích thuộc Phật giáo như tượng Phật hay tháp Phật từ thời Đông Hán tại vùng Lạc Dương ngày nay? Nếu nói rằng: Phật giáo truyền nhập vào Trung Nguyên rồi sau đó mới truyền nhập vào vùng Giang Nam (phía Nam sông Trường giang và vùng đất Ba Thục (Tứ xuyên) ngày nay, thì dù theo trình tự thời gian hay việc tạo tượng đều không thể giải thích được cho thuyết này. Đây chỉ là sự giải thích, tức Phật giáo truyền vào Trung Quốc không phải bằng một con đường mà bằng nhiều hình thức.
Trên lưu vực sông Trường giang đặt biệt là vùng đất Ba Thục (Tứ Xuyên ngày nay) có thể nói Phật giáo từ Tây Vực (vùng cực tây của Tân Cương). Từ “Tây vực” được thấy sớm nhất trong “Sử ký” của Tư Mã Thiên, tức là từ chỉ chung cho vùng Dương Quan, Ngọc Môn Quan của tỉnh Cam Túc và phía tây của Tân Cương ngày nay. Và Phật giáo từ Tây vực truyền vào Trung Nguyên thậm chí có thể sớm hơn, thông qua con đường tơ lụa phương Nam. Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ vào Miến Điện rồi vào Vân Nam sau đó đi vào vùng đất Ba Thục. Theo từ điển “sử Phật giáo Trung quốc” của tác giả Nhậm Kế Vũ đã đề cập, và người nghiên cứu chúng tôi cũng đồng ý với suy đoán này. Các nhà khảo cổ tại Tân Nam, Liên Vận… cũng đã phát hiện tượng Phật điêu khắc thời Đông Hán, chứng tỏ Phật giáo cũng đã được truyền vào Trung Hoa trên con đường tơ lụa bằng đường biển. Ngoài ra, một hiện tượng đáng chú ý, từ trên các văn bản khảo cổ cho thấy, Phật giáo tryền vào đất Trung Nguyên đời nhà Hán chủ yếu được các tầng lớp quan lại của xã hội phong kiến nghinh tiếp, và không ít những văn vật của Phật giáo đã được lưu tồn khá nhiều trong nhân gian. Điều này cho thấy Phật giáo được truyền vào Trung Nguyên bằng con đương tơ lụa là đúng đắn, hợp lý, mà vùng đất Ba Thục được xem là giao lộ thông thuông về phương Nam trên con đường tơ lụa mà Phật giáo cũng từ rất sớm được truyền vào vùng đất này.
Vả lại, sau khi Phật giáo truyền vào vùng đất Ba Thục, đã không ngừng phát triển toàn diện, mặc dù sử liệu không ghi chép cụ thể, nhưng năm 1981 tại Tứ Xuyên, huyện Đồ Tĩnh, trong một ngôi mộ khai quật có cây tiền vàng và tượng gốm mà trên đó có khắc tượng Phật, những văn vật này có thể chứng minh Phật giáo đã có mặt nơi vùng đất Ba Thục từ thời Đông Hán là hợp lý.
Trong Pháp uyển châu lâm, quyển 26, thiên Kính pháp có chép: “Đời Tây Tấn, quận Thục, sa môn Tĩnh Tăng Sinh, đồng chân xuất gia, lấy việc khổ hạnh tu hành, vì phụng trì Phật giáo nơi cổ tự Tam Hiền, vùng đất Ba Thục”. Ngoài ra, Cao tăng truyện, quyển 12, Thích Tăng Sinh truyện, có chép: “Thích Tăng Sinh, họ Viên, người huyện Thục, xuất gia thời niên thiếu, trụ trì chùa Tam Hiền, được xưng là kẻ lấy việc khổ hạnh tu hành, làm rạng rỡ tông phong vùng đất Ba Thục”. Thế nhưng trong đây lại không ghi chú niên hiệu. Thông qua sự ghi chép của Cao tăng Truyện và Pháp uyển châu lâm đều đề cập tăng nhân Thích Tăng Sinh, do vậy có thể biết Thích Tăng Sinh là vị trụ trì đầu tiên tại ngôi cổ tự Tam Hiền vùng đất Ba Thục. Vẫn chưa thấy tài liệu nào ghi chép có vị tăng nào khác trong ngôi cổ tự này sớm hơn một vài sử liệu đã trích dẫn ở trên.
Một số tài liệu khác cũng cho thấy, thời kỳ Ngụy Tấn - Bắc triều, vùng đất Ba Thục đã kiến tạo không ít tượng Phật, những hang đá được khắc thành chùa miếu mà hôm nay chúng ta nhìn thấy được xem là là những văn vật đáng trân quý của Phật giáo thời Nam - Bắc triều.
Như Bồ Giang, Tứ Xuyên có một quần thể những hang động đá bao gồm 10 án thờ, trên mỗi án thờ có tấm bia khắc đề, đời Tây Lương niên hiệu Gia Hưng (417 TL), và mười án thờ này là phong cách điêu khắc vào thời Đường, Lưu Tống, năm thứ 2, niên hiệu Nguyên Gia” (năm 425 TL).
Sau cùng là thời Bắc triều, Chu Võ Đế năm thứ 2 đến năm thứ 5, niên hiệu Bảo Định (562 đến 565 TL) đều là những án thờ trứ danh đã được tạo từ thời Nam triều.
Tại huyện Mậu (vùng đất Tứ Xuyên) việc khao cổ khai quật đã phát hiện vô số tượng Phật được khắc bằng đá, đời Nam Tề niên hiệu Vĩnh Minh (483 TL). Năm 1983 tại thành phố Quảng Nguyên (Trùng Khánh ngày nay) cũng đã khai quật một số tượng Phật Thích Ca, thuộc thời Bắc Ngụy năm thứ 3 niên hiệu Diên Xương (514 TL), và quần thể hang động tại cổ tự Hậu Trạch và cổ tự Quảng Nguyên Thiên Phật Nhai, là những tượng phật điêu khắc thời Nam Bắc triều. Ngôi cổ tự Tân Đô Bảo Quang (Tứ Xuyên) được kiến tạo vào thời Đông Hán, và Tùy, nay vẫn còn lưu giữ 1000 tấm bia được tạo vào đời nhà Lương năm thứ 6, niên hiệu Đại Đồng (540 TL).
Dù cho Phật giáo có phải đã được truyền vào Trung Nguyên từ rất sớm hay không, nhưng các di tích tại hậu kỳ Nam - Bắc triều và tư tưởng Tôn giáo thời Nam - Bắc triều đã dung hợp và lưu truyền phổ cập trong nhân gian. Học giả Thang Dụng Đang từng nói: “từ đời Tấn về sau, phong cách Phật giáo Nam - Bắc triều có sự đặt thù sai biệt cũng là do mối liên hệ từ đời Trần - Tùy, trước sau có sự tương quan dung hợp, do đây mà Phật giáo Tùy - Đường được gọi là thời kỳ Phật giáo hưng long cực độ.”
Như chúng ta đã biết, Phật giáo đời Đường vốn là một tiến trình đã hoàn thành giai đoạn “Trung Quốc hóa”. Bất luận là Phật giáo hay Đạo giáo đều trải qua một thời kỳ biến hóa hưng suy, bất luận là tư tưởng giải thoát bỉ ngạn của Phật giáo hay tư tưởng Thần tiên ẩn cư của Đạo giáo, đều ở trong tâm tánh của những con người bình thường nơi nhân gian mà thành hình.
Xem ra từ góc độ lịch sử, việc biến hóa của tôn giáo cũng cho thấy, con người trong thế tục đối với bản thân luôn có sự quan tâm và duy hộ đời sống tinh thần, họ đối với quan điểm “giải thoát” của nhà Phật hay quan điểm “thiên quốc” của các đạo giáo khác cũng là vì khát vọng thể nghiệm giá trị sau cùng của sanh mạng, và Phật giáo đời Đường là một biểu hiện. Thời Đường, tự viện Phật giáo có mặt khắp nơi. Theo sự ghi chép của sử Trung quốc, thời Đường tự viện Phật giáo trên khắp Trung Hoa có hơn 4000 ngôi chùa. Tương đương với các Châu hay (Phủ) là 328 ngôi, Huyện là 1573 ngôi, bình quân mỗi Châu có 16 ngôi, mỗi Huyện có 3 đến 4 ngôi.
Giới học thuật cho rằng: Sự xuất hiện chùa chiền ở đời Đường ngày càng nhiều, chứng tỏ Phật giáo truyền vào vùng Hoa Hạ (Trung Nguyên) trải qua nhiều triều đại, và mãi đến đời Tùy - Đường đã ăn sau vào kinh tế, văn hóa, chính trị của Trung Hoa, và nó được xem là phép tắc đối với tinh thần cuộc sống, thành ra tinh thần văn hóa xã hội, phổ cập và tồn tại nhất định trong mọi lĩnh vực của cuộc sống nhân gian. Chúng tôi tán đồng với sự phán đoán này. Vì lấy khu vực tín ngưỡng nơi vùng thượng trung du sông Trường giang có thể chứng minh cho sự du nhập Phật giáo vào Trung Hoa. Chùa chiền Phật giáo thuộc các Châu nơi vùng Trung Du sông Trường giang thời Lục triều, mặt dù thiếu đi sự ghi chép cụ thể, nhưng căn cứ các học giả sử như: Lý Văn Lang, Trương Cung trong trong tác phẩm “văn hóa chùa chiền Phật giáo thời Hán Đường”, “Tục cao Tăng truyện”, “Tống Cao Tăng truyện” cùng với việc tra khảo “Đường ngũ đại Tăng lữ hành chỉ Phật tự” liệt kê: chùa miếu tổng cọng 759 ngôi. Trong đó Kinh Châu, Nhưỡng Châu, Ngạc Châu, Tùy châu, Tuần Châu, Phòng Châu, Hạ Châu, Trịnh Châu, Tân Châu, An Châu, Hòang Châu, và Thí Châu tổng cọng 244 ngôi, tỉnh Hồ Bắc ngày nay.
Ngoài ra, trong “Nam Chí” cũng đã ghi chép đời Đường khu vực Trường giang có khoảng 901 ngôi chùa gồm trong 14 Châu, và mỗi Châu có bình quân 17 ngôi chùa, và 61 huyện, mỗi huyện có khoảng 9 ngôi, trong đó khoảng 244 nằm ở tỉnh Hồ Bắc ngày nay. Như chùa Vũ Xương Liên Khê, có ngôi mộ táng trên đề Vĩnh An năm thứ 5 (262 TL) có nhiều tượng đất nung ghi dòng chữ “bạch hào tướng” cùng những bức tranh khắc bằng đồng có giá trị. Căn cứ theo đây, thì lưu vực sông Trường giang là nơi sớm nhất trong việc tạo tượng Phật, xây dựng chùa chiền và phản ảnh văn vật Phật giáo như một sự hiện hữu của phật giáo vào vùng đất Hoa Hạ là điều hợp lý.
Căn cứ tư liệu thống kê trong “Cao Tăng truyện” và “Tống Cao Tăng truyện” đời Tùy - Đường, cao Tăng có 28 vị, hầu hết các vị này chủ yếu ở hai nơi Trường An và Lạc Dương. Đời Tống Tăng Ni toàn Trung Hoa có khoảng 397.000 nghìn người, trong do Tứ Xuyên có khoảng 56.000 nghìn, chiếm toàn quốc khoảng 12.5%. Đến nay phổ cập vùng đất Ba Thục - Tứ Xuyên còn rất nhiều thắng cảnh điêu khắc trên đá văn vật Phật giáo Đường Tống .
Theo số liệu thống kê, ngày nay khu vực nội thị Tứ Xuyên, kỹ thuật tạo hình điêu khắc đời Tống rất tinh xảo khéo léo và hoàn mỹ, hiện đã còn lưu giữ 49 pho tượng Phật đời Tống, và quần thể hang động, trong đó những văn vật Phật giáo đời Tống bố trí thành 24 nơi. Cũng tại một nơi khác của vùng đất Tứ Xuyên, lại có khá nhiều tượng Phật bằng đá và các tác phẩm điêu khắc văn vật Phật giáo đời Đường. Từ những văn vật còn lưu tồn trong viện bảo tàng và trong một số ngôi cổ tự đã cho thấy tín ngưỡng Phật giáo đã bén rễ thâm sâu trong lòng dân gian từ thời Nam - Bắc triều, trên lưu vực sông Trường giang là từ rất sớm.
Như chúng ta đã biết, do vì Phật giáo du nhập và Trường giang, tín ngưỡng Phật giáo đã hòa quyện cùng tín ngưỡng bản địa, và thuyết “nhân quả bảo ứng”, “lục đạo luân hồi” của Phật giáo đã tác động tâm lý con người, ngoài ra sự nhấn mạnh quan niệm quỷ Thần luôn hiện diện bên cạnh là những nguyên nhân càng làm cho tính thiêng liêng của Phật giáo ngày càng tỏ rõ. Tâm lý con người một mặt lấy quỷ thần làm phương diện phụng hành tế tự, mặt khác lấy tín ngưỡng Bồ Tát đồng hóa thành tín ngưỡng bản địa. Đây là khuynh hướng đã tồn tại thời gian khá lâu dài trên lưu vực Trường giang.
Căn cứ những số liệu thống kê, đời Tây Tấn, phía Bắc, lưu vực sông Trường giang có 180 ngôi chùa, và 3700 tăng ni, và đời Đông Tấn những khu vực trên sông Trường giang có 768 ngôi chùa, 24.000 tăng ni. Đời Lưu Tống các vị Tăng nhân đã kiến tạo thêm thành 913 ngôi, và tăng ni 36.000 người. Những tự viện và tăng lữ hầu hết tập trung tại phía Đông sông Trường giang. Và Đến đời Đường, đặt biệt trên lưu vực Trường giang tín ngưỡng Phật giáo trong nhân gian được xem là thời kỳ hoàng kim cực thịnh của Phật giáo. Vì hai lý do:
Thứ nhất, tầng lớp thống trị xã hội đều đề xướng tín ngưỡng Phật giáo. Do đây một dãi phía Đông trên sông Trường giang Phật giáo vô cùng phát triển. Như hoàng đế Võ Tắc Thiên hoàn toàn tôn sùng và phụng hành Phật giáo, Bà còn cho mình là Phật Di Lặc tại phàm. Dưới sự đề xướng của bà, từ bộ máy quan lại hành chính trong triều cho đến thứ dân, mọi người mọi nhà đều hết lòng tôn sùng Phật giáo, và vùng đất Ba Thục từ đây cũng trở thành nơi nơi tín ngưỡng Di Lặc ngày càng nhiều.
Thứ hai, vì Phật giáo đã truyền bá những điều lợi ít trong đời sống tâm lý thường nhật của con người, con người có niềm tin vào Phật pháp, cầu Phật được tai qua nạn khỏi phước thọ tăng long, và trong tâm lý bách tánh, hình tượng đại từ đại bi của bồ tát Di Lặc sẽ bảo hộ sinh mạng và cuộc sống của họ được an toàn. Ngoài ra tín ngưỡng quỷ thần của bản địa cũng là cách thức khiến họ càng thâm tín Phật giáo.
Chúng ta đưa ra thêm chứng cứ về Ngài Thích Đạo Tuyên, trong “Cao Tăng truyện” quyển 27, kể về ngài Thích Pháp Thông, chùa Thường Lạc, Tô Châu, đời Đường: Trinh Quán năm thứ 19, huyện Gia Hưng, có thần Cao Vương, giáng hạ mà dặn dân chúng rằng: “hãy thỉnh Thông pháp sư truyền giới Bồ tát cho tôi” dân chúng bèn nghe theo. Thần lại dặn rằng “từ nay về sau, tôi sẽ đoạn tuyệt ngũ tân, rượu thịt.” nếu như có ai cầu phước, đều tại nơi tự viện thỉnh chúng Tăng thiết lễ trai nghi mà tế tự”. Cũng niên hiệu Trinh Quán năm thứ 21, huyện Hải Diên, phủ Phan Dương thần Quân, nhân trong lễ tế tự, giáng hạ mà dặn rằng: “Hãy thỉnh Thông pháp sư giảng kinh Niết Bàn cho tôi, dân chúng lập đàn phướng cung thỉnh pháp sư đăng tòa thuyết pháp. Nhờ ơn Pháp sư khai thị, mà tôi nghiệp chướng phần nào được tiêu trừ. Lại vừa nghe pháp màu những nỗi khổ bị ấu trùng ấn núp trong thân lông sừng vảy của tôi bớt đi sự đau đớn. Xin mọi người vì tôi mà cầu thỉnh pháp sư giảng thêm một biến đại phẩm Niết Bàn, mọi người đều làm theo lời dặn của Thần.” Điều này chứng tỏ, Phật giáo khi truyền bá vào lưu vực sông Trường giang đã dung nhiếp tín ngưỡng bản địa và tín ngưỡng phồn thực (tín ngưỡng toten), hoặc có lẽ dân gian đã đem các truyền thuyết của Phật giáo và những sự mầu nhiệm dung hòa vào tín ngưỡng bản địa. Tín ngưỡng bản địa và tín ngưỡng phồn thực được hình thành lâu dài là vì nó trở thành phần tâm linh gắn liền với phong tục tập quán lâu đời với người dân ở vùng Giang Nam - Trường giang.
Tín ngưỡng phồn thực sản sanh từ trong sinh hoạt của dân gian, vì họ sanh tồn trong trong điều kiện hoàn cảnh thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt: sấm chớp, mưa bão, hồng thủy, mãnh hổ, ác thú… từng giờ từng khắc đe dọa mạng sống và sự sinh tồn của loài người. Trước năng lực và sức mạnh của thiên nhiên, con người không có cách nào hơn là lấy thiên nhiên để đối trị thiên nhiên, và việc tôn thờ và sùng bái tín ngưỡng phồn thực được xuất hiện. Họ quan niệm sùng bái phồn thực được xem như là những vị thần linh có quyền năng bảo bọc họ.
Bất luận là Phật giáo đã dùng phương pháp nào để thu phục tín ngưỡng bản địa và tín ngưỡng phồn thực, nhưng về sau Phật giáo đã trở thành một phần của tín ngưỡng tôn giáo mang tính toàn quốc. Kết quả đó, một mặt Phật giáo đã đi sâu vào lòng dân gian, những nơi mà có tín ngưỡng thần quyền đều bị Phật giáo nhiếp phục. Đây cũng như “trăm sao chầu về mặt trăng” càng làm nổi bậc và tôn vinh vai trò Phật giáo trong thời Nam Bắc triều. Như chùa Di Ái, ở Lô Sơn, bốn bên đều thờ các vị Thần theo tín ngưỡng bản địa, thành ra Phật giáo và tín ngưỡng dân gian có sự liên đới không thể tách rời.
Học giả Nhật Bản A Lan Triệu căn cứ trong “Tư trị thông giám”, quyển 29, đời Hậu Chu niên hiệu Hiển Đức năm thứ 3 (956 TL) đã tính được rằng: từ đời Đường trở về sau, ở Đài Châu (Triết Giang) có khoảng 1663 ngôi chùa, Ninh Ba, có khoảng 590 ngôi chùa, số lượng ngôi chùa được cất từ thời Ngô Việt được bảo tồn đến nay cũng con khoảng hơn 1000 ngôi. Trong đó có không ít các đền miếu sinh hoạt tôn giáo theo tín ngưỡng phồn thực và tín ngưỡng bản địa đã được Phật giáo thâu nhiếp, do đó càng khiến Phật giáo càng có uy vọng và sức hấp dẫn. Mặt khác, một bộ phận tôn giáo tín ngưỡng Phồn thực và tín ngưỡng bản địa đã được Quan phủ chấp nhận và bảo hộ, do đó mà vẫn còn được lưu truyền. Đương nhiên nó không còn mang tính phổ biến và tượng trưng cho ý thức tín ngưỡng của tôn giáo bản địa. Chính vì lẽ đó, từ Đường đại về sau, các thế lực chính trị không còn cần phải dùng các biện pháp mang tính quy mô để bài trừ tín ngưỡng phồn thực và tín ngưỡng thần quyền ở vùng Giang Nam Trung quốc.
Tài liệu tham khảo
1. “Bốn ngôi mộ thời Nam triều”. Viện bảo tàng Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc. Khảo cổ, xuất bản năm 1965.
2. “Lược khảo cổ mộ điêu khắc”. Tạp chí Hoa Văn xuất bản. Dương Kỹ Cao, 1940.
3. “Những phá hiện mới về niên đại tượng Phật ở cổ mộ Lạc Sơn Ma Hạo và Thị Tử Loan Nhai” . Đường Trường Thọ, nhà xuất bản Đông Nam, 1989.
4. “Kỹ thuật điêu khắc tượng, tháp Phật Nhà Hán”. Viện bảo tàng Nam Kinh, xuất bản 1987.
5. “Báo cáo những ngôi cổ mộ điêu khắc khai quật tại Nghi Nam”. Tăng chiêu Tước, cùng một số cọng sự. Viện bảo tàng Nam Kinh, 1943.
6. “Nhận xét các vấn đề tương quan tượng phật thời Đông Hán của khảo cổ tại Miên Dương”. Hà Chí Quốc. Nhà xuất bản Văn Vật -Tứ Xuyên, 1991.
7. “Sự khảo sát nhữnng di vật và niên đại cùng con đường truyền bá Phật giáo sơ kỳ tại Tứ Xuyên”. Tác giả Ngô Trác. Nhà xuất bản Văn Vật- Tứ Xuyên, 1992.
8. “Cổ mộ Tứ Xuyên thời Hán”. Ủy viên hội quản lý văn vật tỉnh Tứ Xuyên. Nhà xuất bản Văn Vật, 1985.
9. “Pháp Uyển Châu Lâm”. Thích Đạo Thế, nhà xuất bản Cổ Tịch, Thượng Hải, 1991.
10. “Cao tăng truyện”. Thích Huệ Giảo, Bắc Kinh, Trung Hoa thư cục, 1992.
11. “Tứ Xuyên 10 năm khảo cổ thu hoạch”. Triệu Điện Tăng, Nhà xuất bản Văn vật Tứ Xuyên, 1989.
12. “Phật giáo sử Tùy Đường”. Thang Dụng Đan, Bắc Kinh, Trung Hoa thư cục, 1982.
13. “Lịch sử Văn hóa chùa chiền thời Hán Đường”. Trương Cung. Bắc kinh. Trung Quốc khoa học xã hội xuất bản, 1997.
14. “Thông sử Tùy Đường”. Lý Văn Lang. Vũ Hán, nhà xuất bản đại học sư phạm Hoa Trung, 1999.
15. “Lão Học Am bút ký” Lục Phóng Ông toàn tập. Lục Du. Đài Bắc, Thế Giới thư cục, 1963.


Văn Hóa